top of page

Tìm kiếm

Tìm thấy 409 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • Du lịch bền vững: Những điều cơ bản bạn cần biết

    Thuật ngữ “quá tải du lịch” xuất hiện trong vòng khoảng 10 năm trở lại đây, chỉ ra tình trạng số lượng du khách ngày càng tăng gây thiệt hại cho các thành phố, địa danh và cảnh quan. Khi ngành du lịch trên toàn thế giới quay trở lại mức trước đại dịch, nhiều điểm đến phụ thuộc vào thu nhập do du lịch mang lại vẫn quan tâm đến số lượng khách đến. Sự tăng trưởng quá mức của khách du lịch dẫn đến tình trạng quá đông người tại những khu vực mà dân cư phải chịu hậu quả của cao điểm du lịch tạm thời và theo mùa, ép buộc họ phải vĩnh viễn thay đổi lối sống, quyền sử dụng các tiện nghi và sức khỏe toàn diện chung. Du lịch bền vững là gì?  Tổ chức Du lịch Thế giới định nghĩa du lịch bền vững là “du lịch xem xét đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai, đáp ứng nhu cầu của du khách, ngành du lịch, môi trường và cộng đồng địa phương”. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững  và các thực tiễn quản lý áp dụng cho tất cả các hình thức du lịch ở tất cả các loại điểm đến, bao gồm du lịch đại chúng và các phân khúc du lịch đặc thù khác nhau. Các nguyên tắc bền vững đề cập đến các khía cạnh môi trường, kinh tế và văn hóa xã hội của phát triển du lịch, và cần phải thiết lập sự cân bằng phù hợp giữa ba khía cạnh này để đảm bảo tính bền vững lâu dài.  Do đó, du lịch bền vững cần: Sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên môi trường, yếu tố then chốt trong phát triển du lịch, duy trì các quá trình sinh thái thiết yếu và giúp bảo tồn di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học. Tôn trọng tính xác thực văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa kiến ​​trúc và sinh vật cũng như các giá trị truyền thống của họ, và góp phần vào sự hiểu biết và khoan dung giữa các nền văn hóa. Đảm bảo hoạt động kinh tế khả thi, lâu dài, mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho tất cả các bên liên quan được phân bổ công bằng, bao gồm việc làm ổn định và cơ hội kiếm thu nhập, các dịch vụ xã hội cho cộng đồng địa phương và góp phần xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, du lịch bền vững cũng cần duy trì mức độ hài lòng cao của du khách và đảm bảo trải nghiệm có ý nghĩa cho họ, nâng cao nhận thức của họ về các vấn đề bền vững và thúc đẩy các hoạt động du lịch bền vững trong cộng đồng. Vì sao du lịch bền vững lại quan trọng?  Ngành du lịch chiếm khoảng 8% lượng khí thải carbon toàn cầu. Từ các phương tiện di chuyển như ô tô, thuyền, máy bay đến chỗ ở, hoạt động vui chơi, mua sắm, mỗi hoạt động đều góp phần vào dấu chân carbon của ngành du lịch.  Trước diễn biến biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và đa dạng sinh học ngày càng suy giảm, du lịch bền vững càng đóng vai trò quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Không chỉ còn là xu hướng, du lịch bền vững đã trở thành chiến lược trụ cột của ngành du lịch để hướng tới một tương lai bền vững hơn – một tương lai không chỉ dành cho những người hoạt động trong ngành, cộng đồng địa phương mà còn là cam kết gìn giữ thiên nhiên, môi trường và văn hoá địa phương cho những thế hệ sau này.   Sự khác biệt giữa du lịch xanh, du lịch sinh thái và du lịch bền vững  Du lịch xanh đã được các nhà nghiên cứu sử dụng trong một nghiên cứu vào những năm 1980, mô tả việc ngành khách sạn đặt các biển báo màu xanh lá cây trong mỗi phòng để khuyến khích khách tái sử dụng khăn tắm. Nghiên cứu cho thấy nhiều khách sạn cuối cùng hầu như không nỗ lực để bảo tồn tài nguyên hoặc giảm thiểu chất thải; họ chỉ muốn tỏ ra thân thiện với môi trường, hay “xanh”. Điều quan trọng là du khách cần tìm hiểu kỹ hơn về những tuyên bố xanh của khách sạn khi nghiên cứu trước khi đặt phòng. May mắn thay, hầu hết các khách sạn thân thiện với môi trường đều có thông tin trên trang web của họ về các sáng kiến ​​xanh, giúp du khách dễ dàng tìm hiểu về các biện pháp cụ thể mà họ đang thực hiện để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ thực vật và động vật hoang dã, và đóng góp vào phúc lợi của cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái được Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế định nghĩa là: “Du lịch có trách nhiệm đến các khu vực tự nhiên nhằm bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương”. Các nguyên tắc chính của du lịch sinh thái bao gồm giảm thiểu tác động, bảo vệ đa dạng sinh học, nâng cao nhận thức về môi trường và tôn trọng văn hóa địa phương. Thông thường, các điểm thu hút chính đối với khách du lịch sinh thái là hệ thực vật, động vật và di sản văn hóa. Du lịch bền vững và du lịch sinh thái là những khái niệm tương tự và chia sẻ nhiều nguyên tắc giống nhau, nhưng du lịch bền vững có phạm vi rộng hơn; nó bao gồm tất cả các loại hình du lịch và điểm đến, từ du lịch hạng sang đến du lịch bụi, từ các thành phố nhộn nhịp đến những khu rừng nhiệt đới hẻo lánh. Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham gia có hiểu biết của tất cả các bên liên quan, cũng như sự lãnh đạo chính trị mạnh mẽ để đảm bảo sự tham gia rộng rãi và xây dựng sự đồng thuận. Đạt được du lịch bền vững là một quá trình liên tục và đòi hỏi việc giám sát thường xuyên các tác động, đưa ra các biện pháp phòng ngừa và/hoặc khắc phục cần thiết khi cần thiết. Nguồn: Tổng hợp

  • Be A Finnovator: Đồng hành cùng người trẻ xây dựng tư duy và kỹ năng tài chính cá nhân bền vững

    Ngày 28/11/2025, vòng Chung kết cuộc thi “Be A Finnovator – Debate Challenge” đã chính thức diễn ra tại Hội trường A, Trường Đại học Tài nguyên & Môi trường TP. Hồ Chí Minh. Là sáng kiến hợp tác giữa FWD Việt Nam, Dear Our Community và Startup Vietnam Foundation, chương trình “Be A Finnovator” hướng đến mục tiêu bồi đắp kiến thức tài chính cá nhân cho người trẻ, đồng thời rèn luyện tư duy phản biện – một năng lực cốt lõi để đưa ra những quyết định có trách nhiệm trong một thế giới đầy biến động  Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức, “Be A Finnovator” tạo ra một không gian học tập và đối thoại cởi mở, nơi người trẻ được đặt câu hỏi, tranh luận và tự xây dựng góc nhìn của mình về tiền bạc, đầu tư và sự an toàn tài chính dài hạn. Quản lý tài chính cá nhân - một kỹ năng sống thiết yếu của người trẻ Theo khảo sát về mức độ am hiểu tài chính của MasterCard, người Việt trẻ hiện chỉ đạt 52/100 điểm về kỹ năng quản lý tiền cơ bản và 51/100 điểm về đầu tư tài chính – hai chỉ số thấp nhất trong các nhóm kỹ năng được đánh giá. Đáng chú ý, năng lực quản lý tài chính tổng thể của người trẻ Việt Nam chỉ xếp thứ 14/16 quốc gia tham gia khảo sát. Những con số này cho thấy một thực tế đáng suy ngẫm: tài chính cá nhân vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức như một kỹ năng sống nền tảng, dù nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, sự tự chủ và khả năng ra quyết định của mỗi cá nhân. Nếu trong quá khứ, tiền bạc từng được xem là chủ đề “nhạy cảm”, ít được chia sẻ và thảo luận trong gia đình hay nhà trường, thì trong bối cảnh hiện đại, tư duy tài chính đúng đắn và linh hoạt đã trở thành một năng lực không thể thiếu của người trẻ – những người đang phải đối mặt với nhiều lựa chọn, rủi ro và áp lực tài chính hơn bao giờ hết. Quản lý tài chính cá nhân, đặc biệt với sinh viên và người trẻ, không phải là cuộc đua làm giàu hay chạy theo những xu hướng đầu tư ngắn hạn. Đó là hành trình xây dựng một nền tảng kiến thức và tư duy đúng đắn để mỗi người có thể tự tin đưa ra những lựa chọn phù hợp với giá trị sống của mình – từ chi tiêu có ý thức, đầu tư có trách nhiệm, duy trì thói quen tài chính lành mạnh, cho đến việc chủ động đàm phán mức lương và quyền lợi xứng đáng. Tất cả đều góp phần định hình một con đường phát triển cá nhân bền vững, hài hòa giữa lợi ích cá nhân và trách nhiệm cộng đồng. Khi tranh biện trở thành công cụ học tài chính Xuyên suốt 03 workshop, “Be A Finnovator” đã thu hút hơn 450 sinh viên đến từ ba trường đại học tại TP. Hồ Chí Minh: Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM Trường Đại học Tài nguyên & Môi trường TP. HCM Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – ĐHQG TP. HCM Chương trình ghi nhận 11 đội thi đăng ký tham gia Debate Challenge, cùng sự đồng hành của 23 tình nguyện viên FWD xuyên suốt hành trình triển khai. Thông qua chuỗi hội thảo trao đổi kiến thức và cuộc thi tranh biện, sinh viên không chỉ tiếp cận các khái niệm tài chính cá nhân một cách gần gũi, mà còn được rèn luyện khả năng phân tích, lập luận và phản biện đa chiều. Đây chính là nền tảng giúp người trẻ hình thành tư duy độc lập, biết đặt câu hỏi trước các quyết định tài chính và nghề nghiệp trong tương lai. Dear Our Community và hành trình đồng hành cùng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp Từ năm 2022, FWD Việt Nam đã tích cực đồng hành cùng người trẻ trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận kiến thức về chi tiêu, tiết kiệm và quản lý tài chính cá nhân. Tiếp nối hành trình đó, năm 2025, FWD tiếp tục mở rộng tác động xã hội của mình thông qua chương trình “Be A Finnovator”. Với vai trò là đơn vị triển khai nội dung và các hoạt động, kết nối các trường đại học, chuyên gia và truyền thông cho chương trình “Be A Finnovator” năm 2025, Dear Our Community tiếp tục khẳng định vai trò của mình như một nền tảng kết nối đa bên, mang đến những nội dung và trải nghiệm học tập thiết thực về phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội và năng lực công dân trong thời đại mới. Lời cảm ơn đến những người đồng hành Dear Our Community trân trọng cảm ơn sự đóng góp và đồng hành của các đối tác, chuyên gia và đại diện nhà trường đã góp phần tạo nên thành công của chương trình: Anh Trần Phùng Gia Huy – Chuyên gia Tính toán, FWD Việt Nam Chị Lê Hồng Minh – Chủ tịch HĐQT I.value Corp, Thành viên Hội đồng Quản lý Startup Vietnam Foundation Anh Lê Hoàng Linh – Nhà giáo dục & Tư vấn, Nhà sáng lập & Giám đốc Giấy Kể Chuyện ThS. Nguyễn Bá Khoa – Phó Trưởng phòng phụ trách CTSV, Trường ĐH Tài nguyên & Môi trường TP.HCM ThS. Phạm Thùy Dung – Giảng viên Quản trị Kinh doanh, Khoa Kinh tế, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM ThS. Nguyễn Lưu Tâm Anh – Chuyên viên phòng CTSV, Trường ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM TS. Huy Phạm – Giảng viên Cao cấp Tài chính, RMIT Vietnam & CFO, MoneyFi Chị Minh Huỳnh – Trưởng Bộ phận Thương mại & Pháp lý, Ban Phát triển Dự án Mới Anh Nguyễn Nhật Qui – Portfolio Analyst, Dynam Capital Dear Our Community tin rằng những kiến thức về tài chính cá nhân, tư duy phản biện và tinh thần chủ động học hỏi mà các bạn sinh viên tích lũy được từ chương trình “Be A Finnovator” sẽ tiếp tục đồng hành cùng các bạn trên hành trình trưởng thành. Quan trọng hơn, đó chính là “vốn liếng” để mỗi người trẻ trở nên tự tin hơn, chủ động hơn và vững vàng hơn trong việc quản lý tài chính cá nhân – từ hôm nay cho đến tương lai dài hạn.

  • Thế hệ trẻ - Lực lượng mạnh mẽ để ứng phó với biến đổi khí hậu và xây dựng tương lai bền vững

    Thế hệ trẻ là những đối tượng đang gánh chịu trực tiếp và gián tiếp hững hậu quả của biến đổi khí hậu. Đã đến lúc, chúng ta không thể ngoảnh mặt làm ngơ hay cho rằng biến đổi khí hậu là câu chuyện của tương lai xa hay chỉ thuộc về những vùng đất xa xôi mà chúng ta sẽ không bao giờ đặt chân đến. Thế hệ trẻ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu…  Báo cáo Rủi ro Toàn cầu năm 2025  của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) đã xếp hạng các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu là một trong những rủi ro toàn cầu lớn nhất trong triển vọng mười năm, và được xếp hạng cao nhất về mức độ nghiêm trọng. Đồng thời, niềm tin vào các thể chế đang bị xói mòn, đặc biệt là ở thế hệ trẻ, những người cảm thấy bị gạt ra ngoài lề các quyết định định hình cuộc sống của họ. Nỗi lo âu sinh thái  vì thế cũng tăng theo.  Theo UNICEF, những thảm họa thời tiết tàn khốc này đang là trở thành trạng thái bình thường mới trên toàn cầu. Tuy nhiên, tác động của biến đổi khí hậu lên con người là không đồng đều.   Khi thiên tai xảy ra, trẻ em mất đi cơ hội học tập, nguồn dinh dưỡng, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng như không được tiếp cận với nguồn nước sạch và dịch vụ vệ sinh. Trẻ em gái, trẻ em dân tộc thiểu số và trẻ em từ các cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt dễ bị tổn thương do các chuẩn mực và sự phân biệt đối xử về giới, xã hội đã tồn tại từ trước. Các em bị tách khỏi những dịch vụ xã hội quan trọng cũng như sự bảo vệ ngay khi các em cần đến chúng nhất.   …Nhưng thế hệ trẻ cũng là lực lượng nòng cốt để thay đổi thế giới  Trong hai báo cáo : "Thanh niên trong chuyển đổi năng lượng công bằng" và "Thanh niên trong giáo dục về biến đổi khí hậu" (thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Cục Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy giới trẻ ở Việt Nam đang nỗ lực giải quyết các thách thức của biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp. Báo cáo nhấn mạnh sự quan tâm mạnh mẽ của giới trẻ trong việc đóng góp cho một tương lai sạch hơn, xanh hơn. Báo cáo "Thanh niên trong chuyển đổi năng lượng công bằng" đã chỉ ra vai trò quan trọng của thanh niên với tư cách là những người ủng hộ, nhà giáo dục, nhà đổi mới và nhà lãnh đạo trong các hoạt động sử dụng năng lượng bền vững. Người trẻ cũng đang tận dụng lợi thế của chuyển đổi số và mạng xã hội để nâng cao kiến thức và kỹ năng về biến đổi khí hậu.  Nhu cầu cấp thiết về việc tăng cường sự tham gia của giới trẻ vào việc hoạch định chính sách khí hậu càng được nhấn mạnh bởi tốc độ biến đổi khí hậu ngày càng nhanh và thời gian cho những hành động thiết thực đang ngày càng thu hẹp. Cùng chung quan điểm này, hầu hết giới chuyên gia đều nhận định, thế hệ trẻ có thể tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định định hình tương lai của trẻ em.  Một số sáng kiến có thể kể đến như Mạng lưới Thanh niên giảm thiểu rủi ro thiên tai (RJRRD-COL) được thành lập vào tháng 2/2022 tại Colombia, lấy ý tưởng từ 3 thanh niên trẻ đầy nhiệt huyết đã thu hút ngày càng nhiều thanh niên tham gia vào công tác giảm thiểu rủi ro thiên tai thông qua đóng góp các ý tưởng và giải pháp sáng tạo để giải quyết các thách thức trong hiện tại và tương lai. Hay như thế hệ trẻ của Gruzia - đã tổ chức một hội thảo với chủ đề về vai trò của thanh, thiếu niên trong việc tạo ra một tương lai thông minh về khí hậu. Đây là hội thảo có quy mô và tầm vóc khi được tài trợ bởi Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Trung tâm Thông tin và Giáo dục môi trường thuộc Bộ Bảo vệ môi trường và Nông nghiệp Gruzia, Quỹ khí hậu xanh, Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida) và Cơ quan Phát triển và hợp tác Thụy Sĩ (SDC). (theo báo Biên phòng ).  Ngoài ra, các dự án được hỗ trợ bởi Youth4Climate, trải rộng từ Pakistan, Liberia, Uganda,... cũng đều rất đa dạng về đối tượng hướng đến. Những hoạt động hay sự kiện như Mạng lưới Thanh niên hành động vì khí hậu, Hội nghị thượng đỉnh về thanh niên về biến đổi khí hậu,... cũng là những không gian và cơ hội để người trẻ có học hỏi và lên tiếng về biến đổi khí hậu.  Lobal Youth Summit - Nỗ lực kéo người trẻ lại gần với Đồng bằng sông Cửu Long  Là một trong những chương trình được thiết kế để kết nối người trẻ với biến đổi khí hậu, cụ thể là biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long, Lobal Youth Summit xoay quanh các thách thức thực tiễn của doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực: Nông nghiệp tuần hoàn - Quản trị nước - Năng lượng tái tạo.  Dear Our Community mong muốn đây là một đòn bẩy tích cực kết nối người trẻ - doanh nghiệp - chuyên gia để người trẻ có không gian để va chạm thực tế, có cơ hội để tiếp cận với những vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp, ngành nghề và cộng đồng, từ đó thiết kế các giải pháp ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu hiệu quả. Việc kiến tạo những không gian và cơ hội thích hợp để trao quyền cho người trẻ là vô cùng quan trọng, bởi chỉ có thể, người trẻ mới có thể hiểu về biến đổi khí hậu, các thách thức thực tế, những vấn đề nan giải và khó nhằn khi xây dựng các giải pháp đi vào đời sống.  Lobal Youth Summit đã đi đến chặng cuối. Đừng bỏ qua sự kiện Summit Day - Vòng chung kết giữa 5 đội thi sẽ diễn ra vào ngày 06/12/2025. Summit Day sẽ là nơi các đội thi trình bày các ý tưởng tiềm năng cùng prototype được xây dựng trong quá trình hai tháng ươm mầm.  Quan tâm đến biến đổi khí hậu tại ĐBSCL không phải là trách nhiệm của riêng chính phủ, các nhà khoa học hay nhà hoạch định chính sách. Đó còn là trách nhiệm của mỗi chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đăng ký tham gia Summit Day ngay tại: https://lnkd.in/gc2ryTtk

  • THE AUSTRALIAN EDUCATION JOURNEY OF A LIFELONG LEARNER

    Interview with Dr. Tracy Trang Tran – General Manager & Co-Founder, QTS Australia Vietnam Dr. Tracy Trang Tran is widely recognised as a Vietnamese woman leader who rises with both strength and grace. An alumna of RMIT University, the University of Adelaide, and Griffith University, she has built a cross-sector career spanning Education, Diplomacy, Trade and Investment, Energy, and Technology.Her leadership journey includes: Co-Founder & General Manager – QTS Australia Vietnam Senior Business Development Manager – Australian Trade Commission Trade Representative – Queensland Government in Vietnam Trainer, advisor, and ambassador for international projects 2024 Australian Alumni Award in Women’s Leadership Graduate of Platform 4 Change (P4C) for women leaders (Griffith University & Austrade) Beyond her executive career, she is devoted to women’s empowerment, girls’ education, and community development, supporting initiatives such as Aid to Children Without Parents USA, Free Healthcare for Poor People, and RMIT Alumni Social Support. A woman of purpose and humility, Dr. Tracy champions the belief that women can be globally minded and deeply local, ambitious and compassionate, powerful and graceful—leaders and lifters at the same time. Let’s join us in discussing with her about her learning journey in Australia.  What did you study in Australia, and how has that education shaped your career path?   I am proud to say that I have a lifelong learning journey with Australia. It began with my degree at RMIT University, and over two decades, I continued to pursue many professional training programs both self-funded and scholarship-based. I studied Economics with the University of Queensland, Cybersecurity for Trainers with the University of Adelaide, AI and Technology Training with La Trobe University, and Business Studies with University of Canberra. I was also honored to receive the Australian Awards Scholarship for the Women Leaders Program with Griffith University, an experience that deeply shaped my understanding of leadership and empowerment. Beyond academic degrees, I also completed VET qualifications such as the Diploma of Business, Diploma of Leadership with QTS Australia and Certificate IV in Training and Assessment, as well as mentorship programs supported by Austrade, Australian Government. Each course, each experience, helped me grow into a person with a global mindset, cross-sector knowledge, and endless passion for education. Australian education has given me not only knowledge but also humility, empathy, and the courage to innovate. I often say, “Knowledge keeps me young, and thanks to Australia, I’ll always remain a young learner at heart.” What aspects of the Australian education system do you believe Vietnam could benefit from adopting or adapting?   What I love most about Australian education is how it keeps the quality very high, but still makes learning practical and open for everyone. In Australia, education is not just for the top students, it is for all people, including those with disabilities. You can find special programs for talented learners, but also many useful courses that help anyone build real skills for life and work. Australian education is also very modern and flexible. Teachers and students are always encouraged to update themselves, learn new things, and adapt quickly to global changes. There is a strong discipline and system behind it, every level of study is clear, with real outcomes and clear career paths for learners. What impresses me most is that Australian graduates succeed all over the world, proving how effective the system is. I believe Vietnam can learn from that spirit: to aim for top quality, stay practical, and make education equal for everyone. What do you remember most about Australia?  What I remember most about Australia is the smiles and friendliness of its people. Everywhere I went, I was welcomed with warmth and openness, it’s something that stays in my heart. My husband (also Australian Alumnus and University Classmate) and I are very adventurous, so during our time studying, working, and returning to Australia for business, we explored almost every corner of the country. From vibrant cities like Sydney, Melbourne, Brisbane, and the Gold Coast, to the peaceful towns of Morwell, Wollongong, Toowoomba, Byron Bay, Mackay, Cairns, Townsville, and the Sunshine Coast, we were often the only Asian faces in some places, yet we always felt at home. Australians are so easy to talk to, always smiling, always kind. And of course, the natural beauty of Australia is unforgettable. The golden beaches, mountains, valleys, waterfalls, and forests create such a harmony of peace and energy. It’s a land where nature and people live beautifully together. To me, Australia is not just where I studied, it’s a place that shaped my spirit of adventure, optimism, and love for life. What is your most proud achievement in your career/education?  Without the quality of Australian education and the resilient, hard-working spirit of Vietnam, there would be no Dr. Tracy Trang today. I am proud that my journey with Australia did not end with my degree, it has continued to grow throughout my life. Australia not only gave me knowledge but also continued to support me as an alumna, helping me thrive in my career, build a successful business, and develop as a woman leader, educator, and trainer. I am proud that I could use what I learned to give back to Vietnam, bringing world-class education closer to Vietnamese students and families. Even more meaningful is seeing the next generation of my family choosing Australia for their education. It shows that my journey has come full circle, from a young Vietnamese student in Australia to a lifelong learner and mentor whose work continues to connect the two countries. That legacy, of learning and giving, is what I am most proud of.

  • Nhân sự có kiến thức và kỹ năng quản lý tài chính: Lợi ích kép của đôi bên

    Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, ranh giới giữa các chuyên môn không còn rạch ròi như trước. Một người lao động không còn chỉ giỏi trong lĩnh vực chuyên môn mà còn có cơ hội mở rộng kiến thức với những lĩnh vực liên quan. Trong đó, nhân sự am hiểu về tài chính có thể trở thành “tài sản” quý giá của doanh nghiệp, mang lại giá trị thực sự cho bản thân họ cũng như doanh nghiệp, tổ chức.  Khi bạn nói được "ngôn ngữ" của doanh nghiệp Kinh tế - Tài chính là ngôn ngữ chung của mọi doanh nghiệp. Khi nhân viên hiểu được cách công ty tạo ra lợi nhuận, chi phí vận hành ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh, hay ngân sách được phân bổ ra sao, họ sẽ có góc nhìn toàn diện hơn về vai trò của mình. Ý thức về mặt tài chính không chỉ hiện diện trong công việc mà còn từ chính cuộc sống cá nhân.  Nếu trong cuộc sống cá nhân, bạn có kiến thức và kỹ năng quản lý tài chính của mình, sự thấu hiểu này cũng sẽ giúp bạn đưa ra quyết định sáng suốt hơn trong công việc của mình. Thay vì chỉ thực hiện nhiệm vụ một cách máy móc, họ bắt đầu đặt câu hỏi: "Công việc này đóng góp gì vào mục tiêu lớn hơn?" hoặc "Làm thế nào để tối ưu chi phí mà vẫn đạt hiệu quả?". Một nhân viên marketing biết đọc báo cáo tài chính sẽ hiểu rõ ROI của từng chiến dịch, từ đó điều chỉnh chiến lược phù hợp. Một kỹ sư có kiến thức về ngân sách dự án sẽ cân nhắc kỹ lưỡng giữa chất lượng và chi phí, tránh lãng phí không cần thiết Tại Việt Nam, mức độ hiểu biết tài chính của người lao động nhìn chung vẫn còn thấp, dù nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng này đang dần tăng lên.  Nghiên cứu của OECD/INFE cũng xếp Việt Nam dưới mức trung bình của 30 nền kinh tế về chỉ số hiểu biết tài chính. Đáng chú ý, 60% lao động vẫn nhận lương bằng tiền mặt, chỉ gần 9% sử dụng hình thức thanh toán điện tử – phản ánh mức độ hạn chế trong tiếp cận và sử dụng các công cụ tài chính hiện đại. Trong khi đó, các nghiên cứu quốc tế như của REBA (Anh) và TIAA (Mỹ) đã chỉ ra mối liên hệ rõ ràng giữa trình độ tài chính của nhân viên và năng suất làm việc, khả năng ra quyết định cũng như mức độ gắn kết với tổ chức. Những khoảng cách này cho thấy, việc nâng cao hiểu biết tài chính trong lực lượng lao động Việt Nam không chỉ là vấn đề giáo dục cá nhân, mà còn là điều kiện cần để tăng hiệu quả vận hành và tính bền vững của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, lợi ích rõ ràng nhất là tiết kiệm chi phí và tăng hiệu suất. Bên cạnh đó, giao tiếp nội bộ cũng trở nên hiệu quả và minh bạch hơn. Hiểu về tài chính giúp người trẻ phát triển và thăng tiến tốt hơn  Phía nhân viên, kiến thức tài chính là chìa khoá mở ra nhiều cơ hội phát triển và nghề nghiệp. Hiểu về tài chính giúp bạn đàm phán tốt hơn về lương thưởng và quyền lợi của bản thân, hiểu rõ giá trị thực sự của mình trong chuỗi giá trị của công ty. Kỹ năng này đặc biệt quan trọng để bạn quản lý tốt tài chính cá nhân cũng như thực hiện đầu tư từ sớm, tạo nền tảng và nguồn lực ổn định cho sự phát triển lâu dài, tránh cảnh “nhận lương tháng nào biết tháng đó.”  Khi cá nhân nâng cao năng lực về tài chính, bạn không chỉ tăng giá trị bản thân mà còn góp phần xây dựng một tổ chức vận hành hiệu quả, minh bạch và bền vững. Đây chính là mối quan hệ win-win thực sự – nơi sự phát triển của cá nhân song hành cùng sự thành công của doanh nghiệp.

  • Inner Development Goals (IDGs): 5 năng lực nội tại người trẻ cần nâng cấp để bước vào kỷ nguyên mới

    Năm 2015, 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc đã được thông qua. Đây là một lộ trình toàn diện, một lời hứa toàn cầu để giải quyết các thách thức lớn nhất của nhân loại: chấm dứt đói nghèo, bảo vệ hành tinh, đảm bảo hòa bình và thịnh vượng. Nhưng có một sự thật không thể phủ nhận: dù đã có lộ trình, sự tiến bộ vẫn còn chậm một cách đáng báo động. Theo báo cáo từ Liên Hợp Quốc, 17 SDGs không thể hoàn thành đúng thời hạn. Chỉ 15% mục tiêu phát triển bền vững đang đi đúng hướng, nhiều chỉ số quan trọng còn đang thụt lùi. Giữa bão đa khủng hoảng từ đại dịch, xung đột chính trị đến biến đổi khí hậu, giấc mơ bền vững đang đứng trước nguy cơ tan vỡ. Vậy lý do là gì? Chúng ta không thiếu các giải pháp kỹ thuật hay hoạch định chính sách. Cái chúng ta thiếu nằm ở một nơi sâu xa hơn: khả năng của chính con người trong việc thực thi những thay đổi này. Đây chính là lúc Các Mục tiêu Phát triển Nội tại (Inner Development Goals - IDGs) xuất hiện như một lời giải then chốt. IDGs là gì? IDGs là một sáng kiến toàn cầu, phi lợi nhuận, được xây dựng trên nền tảng khoa học vững chắc và sự đồng sáng tạo của hàng ngàn chuyên gia, nhà khoa học (từ tâm lý học, khoa học thần kinh đến nghiên cứu về lãnh đạo) và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới. Sáng kiến này không nhằm tạo ra thêm mục tiêu, mà là để xác định, phổ biến và phát triển những năng lực nội tại  (kỹ năng, phẩm chất, tư duy) thiết yếu mà chúng ta cần để có thể hiện thực hóa SDGs. Nói một cách đơn giản: SDGs  là "những gì"  chúng ta cần làm (cái "phần cứng" của sự thay đổi). IDGs  là "con người"  chúng ta cần trở thành để làm được điều đó (cái "phần mềm" vận hành sự thay đổi). IDGs không thay thế SDGs. Chúng là chất xúc tác bị thiếu. Lập luận cốt lõi là: nếu không có sự thay đổi căn bản về tư duy, lòng trắc ẩn và khả năng hợp tác, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được các mục tiêu bên ngoài.  Khung Năng Lực Của IDGs: 5 Lĩnh Vực, 23 Kỹ Năng Nguồn:  Inner Development Goals   Khung IDGs là một bản đồ chi tiết cho sự phát triển của con người. Nó không phải là một danh sách để hoàn thành, mà là một tập hợp các năng lực tương hỗ lẫn nhau, được chia thành 5 lĩnh vực chính. 1. Hiện Hữu - Mối quan hệ với chính mình (Being) Mục tiêu này nhấn mạnh việc nuôi dưỡng đời sống nội tâm, phát triển và đào sâu mối liên hệ với những suy nghĩ, cảm xúc và cơ thể của bản thân. Hiện Hữu (Being) hướng tới sống trọn vẹn ở hiện tại, hành động có chủ đích và không phản ứng thái quá khi đối mặt với sự phức tạp. Đây là khả năng kết nối sâu sắc với nội tâm, giữ bình tĩnh và rõ ràng khi đối mặt với sự phức tạp và là nền tảng của mọi sự phát triển. La bàn nội tâm (Inner Compass):  Có ý thức trách nhiệm sâu sắc và sự cam kết đối với các giá trị và mục đích liên quan đến lợi ích chung của cộng đồng. Đây là kim chỉ nam cho các quyết định đạo đức. Liêm chính và Chân thực (Integrity and Authenticity):  Sự cam kết và khả năng hành động một cách chân thành, trung thực và chính trực. Một người có sự liêm chính và chân thực trong tính cách sẽ giành được sự tin tưởng của người khác. Tư duy rộng mở và ham học hỏi (Openness and Learning Mindset):  Có tư duy nền tảng là sự tò mò và sẵn lòng chấp nhận sự tổn thương (dễ bị tổn thương), đón nhận thay đổi và phát triển. Tự nhận thức (Self-awareness):  Khả năng kết nối mang tính chiêm nghiệm với những suy nghĩ, cảm xúc và mong muốn của chính mình; có hình ảnh thực tế về bản thân và khả năng tự điều tiết. Sự hiện diện (Presence):  Khả năng tận hưởng trọn vẹn hiện tại, thoát khỏi phán xét và ở trong trạng thái hiện diện cởi mở. Đây là điều kiện tiên quyết để lắng nghe sâu sắc và đưa ra quyết định sáng suốt. 2. Tư Duy - Kỹ năng nhận thức (Thinking) Ưu tiên việc phát triển các kỹ năng nhận thức thông qua việc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, đánh giá thông tin và thấu hiểu thế giới như một tổng thể liên kết tương hỗ là điều cốt yếu để đưa ra những quyết định sáng suốt. Tư duy phản biện:  Các kỹ năng xem xét một cách có phản biện tính hợp lệ của các quan điểm, bằng chứng và kế hoạch. Nhận thức về sự phức tạp:  Sự thấu hiểu và các kỹ năng làm việc với các điều kiện và mối quan hệ nhân quả mang tính hệ thống và phức tạp. Kỹ năng đa góc nhìn:  Các kỹ năng tìm kiếm, thấu hiểu và chủ động tận dụng những hiểu biết sâu sắc từ các góc nhìn tương phản (khác biệt). Kỹ năng thấu hiểu (Lý giải/Nhận thức ý nghĩa):  Các kỹ năng nhìn ra các mô thức (quy luật), cấu trúc hóa những điều chưa biết và khả năng chủ động tạo ra các câu chuyện (cách diễn giải). Định hướng và Tầm nhìn dài hạn:  Định hướng dài hạn và khả năng hình thành cũng như duy trì cam kết đối với các tầm nhìn liên quan đến bối cảnh lớn hơn. 3. Kết Nối - Quan tâm đến người khác và thế giới (Relating) Phát triển bền vững là một lĩnh vực đa ngành, cần sự hợp tác của nhiều bên và cần kĩ năng nuôi dưỡng những mối quan hệ. Do đó IDGs nhấn mạnh sự trân trọng, quan tâm và cảm nhận sự kết nối với những người khác. Chẳng hạn như hàng xóm, các thế hệ tương lai hay sinh quyển, giúp chúng ta tạo dựng các hệ thống và xã hội công bằng, bền vững hơn cho tất cả mọi người. Sự trân trọng:  Kết nối với người khác và với thế giới bằng ý thức cơ bản về sự trân trọng, lòng biết ơn và niềm vui. Sự kết nối:  Có ý thức sâu sắc về việc được kết nối và/hoặc là một phần của một tổng thể lớn hơn, chẳng hạn như một cộng đồng, nhân loại hay hệ sinh thái toàn cầu. Sự khiêm tốn:  Có khả năng hành động phù hợp với nhu cầu của tình huống mà không bận tâm đến tầm quant rọng của bản thân. Thấu cảm và Lòng trắc ẩn:  Khả năng kết nối với người khác, với chính mình và với thiên nhiên bằng lòng tốt, sự thấu cảm và lòng trắc ẩn, đồng thời xoa dịu những khổ đau liên quan. 4. Hợp Tác - Kỹ năng xã hội (Collaborating) Để đạt được tiến bộ trong các mối quan tâm chung, con người cần phát triển khả năng của mình trong việc dung hợp (thu hút sự tham gia), tạo không gian (lắng nghe/thấu cảm) và giao tiếp với các bên liên quan có những giá trị, kỹ năng và năng lực khác biệt. Kỹ năng giao tiếp:  Khả năng thực sự lắng nghe người khác, thúc đẩy đối thoại chân thực, trình bày quan điểm của bản thân một cách khéo léo, xử lý xung đột một cách xây dựng và điều chỉnh giao tiếp cho phù hợp với các nhóm đa dạng. Kỹ năng đồng kiến tạo (Cùng sáng tạo):  Các kỹ năng và động lực để xây dựng, phát triển và thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với các bên liên quan đa dạng, được đặc trưng bởi sự an toàn tâm lý và sự đồng kiến tạo chân thực. Tư duy bao trùm và Năng lực liên văn hóa:  Sự sẵn lòng và năng lực đón nhận sự đa dạng và dung hợp (bao gồm) mọi người cũng như các tập thể có quan điểm và nền tảng khác biệt. Sự tin tưởng:  Khả năng thể hiện sự tin tưởng, đồng thời tạo dựng và duy trì các mối quan hệ tin cậy. Kỹ năng huy động:  Các kỹ năng truyền cảm hứng và huy động (kêu gọi) người khác cùng tham gia vào các mục đích chung. 5. Hành Động - Thúc đẩy thay đổi (Acting) Tư duy và cảm xúc phải được chuyển hóa thành hành động có chủ đích. Những phẩm chất như lòng can đảm và sự lạc quan giúp chúng ta có được năng lực hành động (quyền tự chủ) thực sự, phá vỡ những lối mòn cũ, nảy sinh những ý tưởng độc đáo và hành động kiên trì trong những thời điểm bất định. Lĩnh vực này là cầu nối giữa thế giới nội tâm và tác động bên ngoài. Lòng can đảm:  Khả năng đứng lên bảo vệ các giá trị, đưa ra quyết định, hành động quyết đoán và, nếu cần thiết, thử thách và phá vỡ các cấu trúc cũng như quan điểm hiện có. Sự sáng tạo:  Khả năng tạo ra và phát triển các ý tưởng độc đáo, đổi mới và sẵn sàng phá vỡ những lối mòn thông thường. Sự lạc quan:  Khả năng duy trì và truyền đạt niềm tin, thái độ tích cực và niềm tin vào khả năng có được sự thay đổi ý nghĩa. Sự kiên trì:  Khả năng duy trì sự gắn bó và giữ vững quyết tâm cũng như sự kiên nhẫn ngay cả khi những nỗ lực cần thời gian dài mới mang lại kết quả. Tầm Quan Trọng Của IDGs: Từ Tổ Chức Đến Cá Nhân Việc phát triển các năng lực nội tại không phải là một bài tập triết lý trừu tượng, mà là một yêu cầu cấp thiết đối với cả cấp độ tổ chức và cá nhân trong bối cảnh hiện đại. Đối với các nhà lãnh đạo và tổ chức:  Việc vun đắp IDGs không còn là một lựa chọn "kỹ năng mềm" xa xỉ, mà đã trở thành một yêu cầu chiến lược cốt lõi. Các tổ chức chủ động phát triển những năng lực này sẽ sở hữu: Khả năng thích ứng và chống chịu (Resilience):  Linh hoạt hơn khi đối mặt với khủng hoảng và sự gián đoạn. Năng lực đổi mới vượt trội:  Tạo ra một môi trường an toàn tâm lý, thúc đẩy sáng tạo và hợp tác. Văn hóa doanh nghiệp có ý nghĩa:  Thu hút, giữ chân nhân tài và xây dựng lòng tin bền vững. Đây chính là nền tảng của mô hình Lãnh đạo có ý thức (Conscious Leadership) và quản trị bền vững. Đối với mỗi cá nhân:  Trên phương diện cá nhân, IDGs là bộ công cụ giúp chúng ta không chỉ trở thành tác nhân thay đổi hiệu quả cho xã hội, mà còn xây dựng một cuộc sống trọn vẹn và ý nghĩa hơn. Các năng lực nội tâm này cho phép bạn: Điều hướng sự bất ổn:  Đối mặt với thay đổi và áp lực bằng một tâm thế vững vàng, chủ động thay vì phản ứng thái quá. Nâng cao chất lượng mối quan hệ:  Cải thiện khả năng giao tiếp, lắng nghe sâu và kết nối chân thực trong mọi tương tác (công việc, gia đình, xã hội). Tăng cường sự sáng suốt:  Đưa ra các quyết định nhất quán, phù hợp với các giá trị và mục đích cốt lõi của bản thân. Kiến tạo ý nghĩa:  Tìm thấy mục đích vượt ra ngoài lợi ích cá nhân, cảm nhận sự kết nối và đóng góp cho một bức tranh lớn hơn. Sự thay đổi bắt đầu từ bên trong Là thế hệ kế thừa tương lai, các bạn trẻ ngày nay đang đứng trước những thách thức toàn cầu phức tạp hơn bao giờ hết, từ biến đổi khí hậu đến bất bình đẳng xã hội. Cuộc chiến cho một thế giới bền vững không chỉ diễn ra bên ngoài, qua các chính sách hay công nghệ, mà nó bắt đầu từ chính cuộc cách mạng nội tâm bên trong mỗi người trẻ. Các Mục tiêu Phát triển Nội tại (IDGs) không phải là một lý thuyết xa vời. Chúng là bộ công cụ, là ngôn ngữ chung trao quyền cho thế hệ của bạn. Chúng mời gọi bạn tham gia vào sứ mệnh quan trọng nhất: trưởng thành, rèn luyện năng lực nội tại để trở thành những nhà lãnh đạo, những người kiến tạo sự thay đổi mà thế giới đang cấp thiết cần đến. Thay đổi thế giới không phải là việc của riêng ai. Nó bắt đầu từ chính con người bên trong bạn.

  • FOMO trong chi tiêu cá nhân: Làm thế nào để vượt qua?

    FOMO (Fear of Missing Out) là hội chứng sợ bỏ lỡ những điều thú vị hay quan trọng mà người khác đang nắm bắt nhưng bản thân lại không biết. Tâm lý này trở nên phổ biến hơn khi các nền tảng mạng xã hội xuất hiện, tạo nên những thay đổi trong cách các ngành hàng tiếp cận người tiêu dùng và “lôi kéo” họ mua sắm và chi tiêu nhiều hơn.  FOMO khiến người trẻ đánh mất sự tự chủ trong chi tiêu Nguồn: The Thunderword Trưởng thành trong thời đại công nghệ số, Gen Z có hành trình ra quyết định mua sắm phức tạp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ công nghệ và mạng xã hội. Theo khảo sát của KPMG trên 7.000 người tại 14 thị trường, 63% Gen Z đánh giá cao thương mại xã hội, 57% coi livestream là yếu tố quan trọng trong trải nghiệm mua sắm. Mô hình này đặc biệt phổ biến tại Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia và Philippines, phản ánh sự kết nối chặt chẽ giữa mạng xã hội và thương mại điện tử trong hành vi tiêu dùng của Gen Z. Ngoài ra, báo cáo của KPMG cũng nhấn mạnh rằng TikTok và KOLs có tác động sâu sắc đến quyết định mua sắm của Gen Z khi nội dung từ những người có tầm ảnh hưởng trên nền tảng này không chỉ thúc đẩy xu hướng tiêu dùng mà còn tạo cảm giác "phải có ngay" đối với sản phẩm được quảng bá. Tuy nhiên, xu hướng tiêu dùng của Gen Z thể hiện sự đối lập giữa "tiêu dùng quá mức" và "tiêu dùng tiết kiệm". Một mặt, họ bị ảnh hưởng bởi các nền tảng như TikTok và Instagram, thúc đẩy mua sắm bốc đồng thông qua các chiến dịch quảng bá của người ảnh hưởng. Mặt khác, nhận thức về môi trường và kinh tế khuyến khích họ lựa chọn sản phẩm bền vững và chất lượng cao, ưu tiên tái sử dụng và sửa chữa (McKinsey, 2023). (theo bài viết Tâm lý FOMO và mặt trái của hành vi tiêu dùng xanh trong giới trẻ ) Tâm lý có phần mâu thuẫn này có thể khiến người trẻ càng thêm hoang mang vào cách chi tiêu như thế nào là hợp lý. Họ vừa không muốn bị bỏ lại đằng sau những người bạn đồng trang lứa vừa không muốn thực hiện những hành vi mua sắm có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và cộng đồng xung quanh. Ngoài ra, nhiều công ty tận dụng các chiêu trò “tẩy xanh” (greenwashing) để qua mắt người tiêu dùng và thúc đẩy họ mua hàng để đáp ứng lối sống xanh, không phải ai cũng đủ kiến thức chuyên môn để nhận ra những chiêu trò này.    Lấy lại quyền tự chủ trong thời đại tiêu dùng Dù không thể phủ nhận sức ảnh hưởng mạnh mẽ của các chiến dịch marketing và tâm lý học tiêu dùng, người tiêu dùng vẫn nắm giữ quyền lực cuối cùng: khả năng tự chủ trong quyết định. Chìa khóa nằm ở việc chuyển hóa từ những phản ứng bị động sang những lựa chọn có ý thức. Thay thế FOMO bằng JOMO: Thay vì để nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO) chi phối, hãy trân trọng niềm vui khi biết bỏ lỡ (JOMO - Joy of Missing Out). Đây không phải là sự cô lập, mà là nghệ thuật chọn lọc có chủ đích. Bạn không nhất thiết phải xuất hiện ở mọi địa điểm "hot trend" hay sở hữu mọi món đồ mà người khác đang khoe. Khi thoát khỏi vòng xoáy chạy đua vật chất và tiếng ồn xã hội, bạn sẽ tìm thấy không gian quý giá dành cho bản thân, gia đình và những giá trị thực sự bền vững trong cuộc sống. Nâng cao khả năng tự nhận thức: Hiểu bản thân không chỉ là câu nói sáo rỗng. Đó là quá trình khám phá sâu sắc về giá trị cốt lõi, nhu cầu thực sự và ranh giới cá nhân. Khi bạn nhận diện rõ điều gì thật sự quan trọng với mình, các quyết định tiêu dùng sẽ trở nên tự nhiên hơn - xuất phát từ nhu cầu nội tại thay vì áp lực từ xu hướng bên ngoài. Quản trị cảm xúc: Nhiều quyết định mua sắm không đến từ lý trí mà từ cảm xúc: vui vẻ thì muốn "thưởng" cho bản thân, buồn bã thì cần "an ủi" bằng shopping. Nhận diện các cảm xúc này là bước đầu để phá vỡ chu kỳ tiêu dùng bốc đồng. Thay vì dùng tiền làm công cụ điều chỉnh tâm trạng tức thời, hãy tìm những cách thức lành mạnh hơn để xử lý cảm xúc. Hành động cụ thể: Ý thức tốt cần đi đôi với kỷ luật hành động. Xây dựng kế hoạch chi tiêu rõ ràng, ghi chép đầy đủ các giao dịch không chỉ giúp kiểm soát tài chính mà còn tạo ra bức tranh toàn cảnh về thói quen tiêu dùng của bạn. Từ đó, những điều chỉnh cần thiết sẽ được thực hiện dựa trên dữ liệu thực tế, không phải cảm tính hay hối hận sau khi "vung tiền". Cuối cùng, quyền tự chủ không có nghĩa là từ chối tất cả, mà là biết chọn lọc một cách thông minh - mua ít hơn, chọn đúng hơn, sống trọn vẹn hơn.

  • Không thể có phát triển bền vững nếu phụ nữ bị bỏ lại phía sau

    Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10 hàng năm không chỉ là một dịp để chúc mừng và tôn vinh những người phụ nữ Việt, mà còn là một dịp để chúng ta nhìn lại một chặng đường lịch sử đã qua và hành trình hướng tới tương lai - nơi chưa bao giờ và không thể vắng bóng sự hiện diện, đóng góp và đấu tranh của phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt, khi Việt Nam đang đứng trước những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc chuyển đổi xanh cùng kế hoạch phát triển bền vững, vai trò của phụ nữ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Vai trò của phụ nữ trên hành trình thúc đẩy phát triển bền vững  Phụ nữ là nhóm yếu thế và chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, phân biệt giới, bạo lực trên cơ sở giới,... nhưng cũng chính là lực lượng then chốt và chủ lực trong việc quyết định và kiến tạo sự thay đổi.  Theo Thông tấn xã Việt Nam, phụ nữ Việt Nam chiếm đến 63% lực lượng lao động, số doanh nghiệp Việt có phụ nữ trong cơ cấu chủ sở hữu chiếm 51%. Trong đời sống chính trị và lãnh đạo, điều hành đất nước, phụ nữ đang ngày càng khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, với 30,26% nữ đại biểu Quốc hội khoá XV.  Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, các nhà khoa học nữ không chỉ góp phần phát triển khoa học Việt Nam theo hướng ứng dụng mà còn khẳng định vai trò của phụ nữ trong hành trình xây dựng tương lai bền vững cho đất nước. Trong số 12 cá nhân xuất sắc được trao Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam 2025, có 5 gương mặt tiêu biểu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.  Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, phụ nữ là nhân tố quan trọng và tích cực, mang đến những thay đổi tích cực cho cộng đồng, trong đó có phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.  Đặc biệt, Chương trình  hành động quốc gia về Phụ nữ, hòa bình và an ninh giai đoạn 2024-2030 là một minh chứng rõ ràng cho vai trò thiết yếu của phụ nữ trong sự phát triển của đất nước. Mục tiêu chung của Chương trình nhằm bảo đảm và thúc đẩy hơn nữa bình đẳng giới; nâng cao vai trò, vị thế, tiếng nói, quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của phụ nữ trong tham gia các lĩnh vực hòa bình, an ninh, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và sự phát triển bền vững của quốc gia và trên phạm vi quốc tế. Ngoài ra, Việt Nam xếp hạng 74/148 quốc gia trong Chỉ số Khoảng cách Giới toàn cầu ( Global Gender Gap Report ) năm 2025, tăng 2 bậc so với năm 2024. Đây là một tin vui cho thấy sự cam kết của Việt Nam trên tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới.  Phụ nữ vẫn phải đối mặt với vô vàn thách thức  Định kiến giới trong lĩnh vực khoa học - công nghệ: Nam giới vẫn là lực lượng chủ yếu “thống trị” lĩnh vực STEM, điều này càng được củng cố thêm bởi các định kiến như “Phụ nữ không phù hợp với khoa học tự nhiên”, “Phụ nữ không giỏi Toán và logic bằng đàn ông”. Cho dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng số lượng nhà khoa học là nữ vẫn chỉ chiếm 21,5% trong tổng số các nhà khoa học. Trên toàn cầu, tỷ lệ kỹ sư là phụ nữ cũng chỉ chiếm khoảng 15%.  Áp lực kép “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” : Vừa phải có sự nghiệp riêng vừa phải chăm sóc tốt cho gia đình - một kỳ vọng của xã hội dưới lớp vỏ của “siêu năng lực” thực chất càng khiến phụ nữ áp lực chồng chất áp lực. Trong khi đó, “Hình phạt khi làm mẹ”  (Motherhood penalty) là một trong những lý do lớn khiến phụ nữ dễ kiệt sức, ngại thăng tiến hoặc xây dựng gia đình.  Chênh lệch thu nhập và cơ hội nghề nghiệp : Gần 32% nữ giới cảm thấy mức lương thu nhập thấp ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng mối quan hệ của họ với bạn đời dẫn đến hạnh phúc gia đình tan vỡ, trong đó người phụ nữ là người thiệt thòi nhất và cuối cùng là nguồn lực xã hội bất ổn định. Phụ nữ lo ngại về việc bị AI thay thế hơn đồng nghiệp nam. Theo các nhà nghiên cứu, 46% phụ nữ và 37% nam giới lo lắng về việc tự động hóa do AI điều khiển thay thế họ trong công việc hiện tại của họ.Hiện nay, ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 51% lực lượng lao động và đóng vai trò chính trong công việc gia đình và nuôi dạy con cái. Tỷ lệ nữ giới làm công việc lãnh đạo, quản lý đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với các vị trí lãnh đạo, quản lý nói chung, so với sự gia tăng của lực lượng lao động nữ nói riêng. ( Theo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, 2025 )  Thiếu cơ hội tiếp cận các nguồn lực cần thiết. Ví dụ, theo Khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam, 63% phụ nữ  nông thôn tham gia vào sản xuất nông nghiệp, cao hơn so với tỷ lệ 58% ở nam giới. Đặc biệt, trong cộng đồng dân tộc thiểu số – nơi có tới 81% dân số làm nông – phụ nữ chiếm tỷ trọng lao động lớn. Tuy nhiên, họ lại thường thiếu các nguồn lực cần thiết để phục hồi sau các cú sốc khí hậu như lũ lụt, hạn hán, thiếu nước, đe dọa nghiêm trọng đến sinh kế. (United Nations)  Những thách thức trên không chỉ cho thấy phụ nữ vẫn phải nỗ lực để được công nhận, mà còn cho thấy sự phát triển bền vững sẽ không thể đạt được nếu một nửa dân số vẫn bị bỏ lại phía sau. Những “khoảng trống” cần tiếng nói và quyết định của phụ nữ  “ Báo cáo Lợi thế xanh : Vai trò của nữ giới trong lực lượng lao động và lãnh đạo - Nền tảng cho doanh nghiệp phát triển bền vững tại Việt Nam”  chỉ ra rằng mặc dù các ngành năng lượng mặt trời, tái chế nhựa, và sản xuất lúa gạo đóng vai trò trung tâm trong các mục tiêu khí hậu của Việt Nam, tỷ lệ nữ giới hiện diện trong lực lượng lao động chính thức và các vị trí lãnh đạo tại ba ngành này vẫn còn rất thấp – chỉ chiếm trung bình lần lượt là 23% và 21%. Khi các ngành này tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường cũng như mở ra hàng loạt cơ hội việc làm xanh, khoảng cách giới sẽ kìm hãm đổi mới sáng tạo, làm chậm tốc độ tăng trưởng và giảm khả năng cạnh tranh và năng suất của doanh nghiệp. Nhóm Ngân hàng Thế giới ước tính lộ trình hướng tới phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam sẽ tạo ra gần một triệu việc làm mới tính tới năm 2040, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM).  Do đó, các doanh nghiệp cần có những biện pháp chủ động để đảm bảo phụ nữ có thể tiếp cận công bằng các cơ hội việc làm này. Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng Đại diện UN Women tại Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn trên Vietnam Today nhân dịp 20/10/2025), khẳng định: “Chúng ta cần trao cho phụ nữ tiếng nói, bởi vấn đề không chỉ nằm ở những con số – mà là đánh giá xem môi trường có đủ thuận lợi để họ cất lên tiếng nói, để những quan điểm và trải nghiệm của họ được ghi nhận trong quá trình ra quyết định.”  Dù vẫn còn nhiều rào cản và định kiến trên hành trình khẳng định vị thế, phụ nữ Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội để gây dựng sự nghiệp cũng như theo đuổi cuộc sống của riêng mình: bình đẳng giới được chính phủ thúc đẩy mạnh mẽ, nền kinh tế xanh mở ra hàng triệu việc làm mới, và ngày càng nhiều chính sách, chương trình hỗ trợ phụ nữ. Cùng với sự tiến bộ trong nhận thức xã hội, phụ nữ ngày càng tự tin theo đuổi và dấn thân vào những ngành nghề “phi truyền thống”. Đây không chỉ là những tín hiệu khả quan, mà còn là định hướng cốt lõi cho tương lai: Trao quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ chính là nền tảng để xã hội phát triển bền vững.

  • Phân biệt CSR - ESG - Phát triển bền vững: Những điều bạn cần biết

    CSR - ESG - Phát triển bền vững - 03 khái niệm quen thuộc thường xuất hiện trong các tin tức về kinh tế, hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như xu hướng phát triển của thế giới trong tương lai. Nhưng bạn có tự tin là đã hiểu đúng và trọn vẹn về sự khác biệt của mỗi khái niệm? Hãy tìm hiểu cùng Dear Our Community qua bài viết dưới đây nhé. Về khái niệm CSR - ESG - Phát Triển Bền Vững CSR  là viết tắt của Corporate Social Responsibility (Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp).  Khái niệm này ra đời từ nhu cầu của xã hội trong việc cân bằng lợi ích giữa phát triển kinh tế và bền vững xã hội, môi trường. Thuật ngữ ESG , hay môi trường, xã hội và quản trị, rất quen thuộc trong cộng đồng nhà đầu tư. Nó đề cập đến một tập hợp các chỉ số được sử dụng để đo lường tác động môi trường và xã hội của một tổ chức và ngày càng trở nên quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư qua nhiều năm. Tuy nhiên, mặc dù thuật ngữ ESG lần đầu tiên được Hiệp ước Toàn cầu của Liên Hợp Quốc đưa ra vào năm 2004, khái niệm này đã tồn tại từ lâu hơn thế. Phát triển bền vững là một quá trình phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng này của các thế hệ tương lai. Khái niệm phát triển bền vững định nghĩa lần đầu trong báo cáo "Brundtland Report" của Liên Hợp Quốc năm 1987. Trong đó khái niệm này được mô tả dựa trên ba trụ cột  chính là kinh tế, xã hội, môi trường. Về lịch sử hình thành  Lịch sử hình thành của CSR  Vào giữa đến cuối những năm 1800, các nhà công nghiệp ngày càng quan tâm đến phúc lợi và năng suất của người lao động. Những lời chỉ trích ngày càng tăng đối với hệ thống nhà máy mới nổi, điều kiện làm việc, cũng như lao động nữ và trẻ em đã được đưa ra ánh sáng, đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Cũng xuất hiện vào cuối những năm 1800 là sự trỗi dậy của hoạt động từ thiện. Nhà công nghiệp Andrew Carnegie, người kiếm được phần lớn tài sản của mình trong ngành công nghiệp thép, được biết đến với việc quyên góp phần lớn tài sản của mình cho các hoạt động liên quan đến giáo dục và nghiên cứu khoa học. Tiếp bước Carnegie, ông trùm ngành dầu mỏ John D. Rockefeller cũng tham gia vào các hoạt động từ thiện doanh nghiệp và quyên góp hơn nửa tỷ đô la cho các hoạt động tôn giáo, giáo dục và khoa học. Thuật ngữ Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp (CSR) chính thức được nhà kinh tế học người Mỹ Howard Bowen đặt ra vào năm 1953 trong ấn phẩm Trách nhiệm Xã hội của Doanh nhân. Vì vậy, Bowen thường được coi là cha đẻ của Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp. Tuy nhiên, phải đến những năm 1970, Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp mới thực sự bắt đầu được áp dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ. Đến những năm 1980, Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ban đầu tiếp tục phát triển khi ngày càng nhiều tổ chức bắt đầu kết hợp lợi ích xã hội vào hoạt động kinh doanh của mình đồng thời phản hồi tốt hơn với các bên liên quan. Lịch sử hình thành của ESG  Vào những năm 1970, đầu tư có trách nhiệm xã hội (SRI) nổi lên như một cách để các nhà đầu tư điều chỉnh danh mục đầu tư của họ phù hợp với các giá trị của họ. Phong trào này đã phát triển mạnh mẽ vào những năm 1980 với các chiến dịch thoái vốn chống lại các công ty kinh doanh tại Nam Phi trong thời kỳ phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, phải đến những năm 1990, các cân nhắc về ESG mới bắt đầu xuất hiện trong các chiến lược đầu tư chính thống. Dần dần, các nhà đầu tư tổ chức bắt đầu nhận ra rằng các công ty có khả năng cải thiện hiệu suất tài chính và quản lý rủi ro bằng cách tập trung vào các vấn đề ESG như khí thải nhà kính. Đáp lại, các nhà quản lý tài sản bắt đầu phát triển các chiến lược và thước đo ESG để đo lường tác động môi trường và xã hội của các khoản đầu tư của họ. Năm 1997, Sáng kiến ​​Báo cáo Toàn cầu (GRI) được thành lập với mục tiêu giải quyết các vấn đề về môi trường, mặc dù sau đó đã mở rộng phạm vi hoạt động để tập trung vào các vấn đề xã hội và quản trị. Năm 1998, John Elkington xuất bản cuốn sách "Cannibals with Forks, the Triple Bottom Line of 21st Century Business", trong đó ông giới thiệu khái niệm "ba nguyên tắc cốt lõi", một khuôn khổ bền vững xoay quanh ba chữ P: con người, hành tinh và lợi nhuận. Mục tiêu của Elkington là làm nổi bật một khối lượng ngày càng tăng các cân nhắc phi tài chính cần được đưa vào khi định giá các công ty. Hơn nữa, Elkington hy vọng thuyết phục các doanh nghiệp hoạt động vì lợi ích tốt nhất của con người và hành tinh.  Năm 2000, Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ tại New York để các nhà lãnh đạo thế giới thảo luận về vai trò đang phát triển của họ trong thiên niên kỷ mới. Sau hội nghị thượng đỉnh, các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) đã được xây dựng, phác thảo tám mục tiêu phát triển quốc tế cần đạt được vào năm 2015. Mặc dù được thiết kế để khơi mào cho các cuộc thảo luận, nhưng cuối cùng các MDG đã tạo tiền đề cho các quốc gia và tập đoàn thảo luận thẳng thắn hơn về các yếu tố ESG. Thuật ngữ "ESG" (Environmental, Social, and Governance) chính thức xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2004 trong một báo cáo có tên “Who Cares Wins” (Ai quan tâm sẽ thắng), do Liên Hợp Quốc bảo trợ thông qua sáng kiến Global Compact phát động. Báo cáo này là kết quả hợp tác của 20 tổ chức tài chính đến từ 9 quốc gia, nhằm kêu gọi các công ty và tổ chức tài chính tích hợp các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp vào chiến lược kinh doanh và quản lý rủi ro của mình. Báo cáo nhấn mạnh rằng các yếu tố ESG không chỉ có tác động xã hội mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính dài hạn, giá trị cổ đông và uy tín doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng để Liên Hợp Quốc ra mắt các nguyên tắc đầu tư có trách nhiệm (Principles for Responsible Investment - PRI) vào năm 2006, thúc đẩy sự phát triển rộng rãi của khung đánh giá ESG trong giới đầu tư toàn cầu.  Lịch sử hình thành của Phát triển bền vững  Năm 1972, khái niệm bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong bối cảnh tương tự như ngày nay, liên quan đến tương lai của nhân loại. Một tạp chí hàng đầu đã xuất bản một loạt bài viết mang tên “Blueprint for Survival”  (“Kế hoạch sinh tồn”). Bài viết có sự tham gia của hơn 30 nhà khoa học, những người khuyến nghị chúng ta nên sống trong các cộng đồng nhỏ, phi công nghiệp hóa, cùng nhiều đề xuất khác. Một sự kiện liên quan khác, vào ngày 23 tháng 6 năm 1988, hiện tượng nóng lên toàn cầu đã được công nhận trên phạm vi rộng hơn sau khi một nhà khoa học của NASA làm chứng với thế giới rằng khí hậu đang thay đổi. Tuy nhiên, vào khoảng thời gian này, các doanh nghiệp bắt đầu coi chủ nghĩa môi trường như một cách để bán hàng. Đây cũng là lần đầu tiên khái niệm "greenwashing" (tẩy xanh) được nhắc đến bởi Westerveld trong một bài luận năm 1986, phân tích những hoạt động đáng ngờ của ngành khách sạn – kêu gọi khách hàng tái sử dụng khăn tắm để bảo vệ môi trường trong khi họ không hề có bất kỳ biện pháp thân thiện với môi trường nào khác. Thực trạng và bối cảnh của các lĩnh vực tại Việt Nam  CSR tại Việt Nam  Thực tiễn cho thấy, những doanh nghiệp thực hiện tốt CSR thường đạt được những lợi ích đáng kể, bao gồm giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới. Báo cáo chiến dịch CSR (Corporate Social Responsibility - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp) nổi bật mạng xã hội do YouNet Media thực hiện trong nửa cuối năm 2024, cho thấy số lượng chiến dịch CSR tại Việt Nam có 213 chiến dịch CSR từ 193 doanh nghiệp được triển khai, tăng 35,7% chiến dịch so với nửa đầu năm. Cụ thể, 70% chiến dịch CSR trong nửa năm qua tập trung vào các vấn đề xã hội nền tảng như giáo dục, sức khoẻ, xoá nghèo... Trong đó, nổi bật nhất là sức khỏe cộng đồng với 39 chiến dịch, chiếm hơn 60% lượng thảo luận trên mạng xã hội cho các chiến dịch CSR. Theo đánh giá của các chuyên gia, điều này cho thấy các hoạt động CSR của doanh nghiệp đang chú trọng đến vấn đề sức khỏe cộng đồng và ngày càng gắn kết bền vững với diễn biến đời sống của người dân. (Theo  VnEconomy ) ESG tại Việt Nam  Trong khu vực ASEAN, Việt Nam đang nổi lên như một điểm sáng trong chuyển đổi xanh, nhưng vẫn đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia như Singapore, Thái Lan và Indonesia. Tại Việt Nam, cam kết quốc tế đã tạo nền tảng cho sự phát triển của ESG. Tại Hội nghị COP26 năm 2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tuyên bố Việt Nam sẽ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, với mục tiêu giảm 43,5% lượng phát thải vào năm 2030. Điều này được củng cố tại COP27 năm 2022, khi Việt Nam tiếp tục khẳng định lộ trình chuyển đổi năng lượng và kinh tế xanh. Chính phủ đã ban hành Quyết định 167/QĐ-TTg (08/02/2022), xác định ESG là ba trụ cột cốt lõi trong kinh doanh bền vững, đặt áp lực lên doanh nghiệp trong việc tái cấu trúc hoạt động. (theo  Báo điện tử Đầu tư, 2025 )  Các tiêu chuẩn ESG ngày càng khắt khe tại các thị trường xuất khẩu lớn đòi hỏi doanh nghiệp Việt phải chuyển đổi mô hình kinh doanh theo hướng bền vững, giảm phát thải carbon, tối ưu hóa tài nguyên và bảo vệ môi trường. Việt Nam đang đặt mục tiêu Netzero năm 2050, với các chính sách thể chế như Nghị quyết 29-NQ/TW, Chiến lược tăng trưởng xanh đến 2030, thí điểm sàn giao dịch carbon từ 2025, cùng nhiều quyết định thúc đẩy chuyển đổi công nghiệp xanh. Phát triển bền vững - Định hướng tương lai dài hạn của Việt Nam & Ước mơ lớn của nhân loại  Tại Việt Nam, phát triển bền vững và chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu bắt buộc chứ không còn là lựa chọn tùy ý. Sự dịch chuyển sang mô hình công nghiệp xanh, kinh tế phát thải thấp, sạch và tuần hoàn là xu thế toàn cầu buộc Việt Nam phải thích nghi để duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định và hội nhập quốc tế. Xu hướng phát triển bền vững được áp dụng trong nhiều ngành , như nông nghiệp, năng lượng, tài chính, công nghệ,...  Công nghiệp, mảng trụ cột kinh tế, đang phải tái cấu trúc theo hướng xanh để tránh tụt hậu công nghệ, đồng thời tận dụng cơ hội đầu tư hiệu quả về lâu dài. Việc này bao gồm áp dụng công nghệ tuần hoàn, số hóa, cải tiến sản xuất để giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay bắt buộc phải biến phát triển bền vững thành hành động chiến lược nhằm tồn tại và phát triển trong kỷ nguyên "vươn mình" với các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng nghiêm ngặt. Như thế, phát triển bền vững với yêu cầu chuyển đổi xanh là bước đi tất yếu không chỉ đóng góp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao sức cạnh tranh và phát triển kinh tế cho Việt Nam trong tương lai gần.

  • Người trẻ thất nghiệp: Có phải chỉ vì "không nỗ lực"?

    Những con số thống kê gần đây từ Tổng cục Thống kê  và phân tích từ VnExpress , đều vẽ nên một bức tranh đáng lo ngại: Việt Nam hiện có hơn 1,6 triệu thanh niên trong độ tuổi 15-29 không việc làm, không tham gia đào tạo, chiếm tới 11,5% lực lượng lao động trẻ. Khi nhìn vào phần bình luận dưới các bài báo hay lắng nghe các cuộc trò chuyện từ thế hệ trước, thường có một điểm chung rằng họ đều phán xét: “giới trẻ bây giờ lười biếng”, "Bằng cấp đầy ra đấy mà không xin được việc là do kén cá chọn canh", hay "Ngày xưa chúng tôi khổ hơn nhiều mà còn có việc làm, tất cả là do không chịu nỗ lực". Những lời nói này, dù có thể xuất phát từ sự quan tâm, lại vô tình phủ một lớp màn định kiến lên một vấn đề xã hội phức tạp. Việc quy chụp tất cả chỉ vì hai chữ "nỗ lực" là một cái nhìn quá phiến diện và có phần bất công. Thực tế, câu chuyện đằng sau phức tạp hơn rất nhiều. Khi "nỗ lực" Thôi Là Chưa Đủ Không ai có thể phủ nhận rằng nỗ lực cá nhân, thái độ cầu tiến và sự chủ động là những yếu tố tiên quyết trên con đường sự nghiệp. Nhưng hãy thử tưởng tượng, bạn là một vận động viên bơi lội tài năng, nỗ lực ngày đêm, nhưng lại bị đẩy vào một cuộc đua trên sa mạc. Liệu nỗ lực có giúp bạn chiến thắng? Người trẻ ngày nay cũng đang ở trong một "cuộc đua" tương tự, nơi bối cảnh đã hoàn toàn thay đổi. 1. Thị trường lao động đầy thách thức "Tấm bằng đại học" không còn là vé thông hành vàng. Thị trường lao động hiện tại đang đối mặt với tình trạng "cung vượt cầu" và những yêu cầu ngày càng khắt khe hơn. T heo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) , dù tỷ lệ có việc làm ở khu vực Đông Á và Thái Bình Dương nhìn chung cao, người trẻ lại là nhóm gặp khó khăn nhất. Tại Việt Nam, tình hình càng thêm rõ nét khi nhiều doanh nghiệp tái cấu trúc, cắt giảm nhân sự sau đại dịch. Sự dịch chuyển lao động cũng không còn mang lại nhiều giá trị như trước. Nếu như trước đây, lao động chuyển từ nông nghiệp sang các ngành sản xuất, dịch vụ năng suất cao, thì từ những năm 2000, xu hướng lại là chuyển dịch sang các công việc dịch vụ năng suất thấp, không chính thức. Điều này có nghĩa là dù tìm được việc, nhiều người trẻ cũng đang làm những công việc bấp bênh, năng suất thấp. 2. Khoảng cách giữa bằng cấp và năng lực thực tế Một thực trạng đáng buồn là nhiều chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết. Các báo cáo từ Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA)  cũng thường xuyên nhấn mạnh về sự thiếu kết nối giữa giáo dục và nhu cầu doanh nghiệp. Việc học nhiều hơn không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với kỹ năng tốt hơn. Nhiều thanh niên dù có bằng cấp nhưng lại thiếu các kỹ năng nền tảng và kỹ năng chuyên môn đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng. Điều này dẫn đến một nghịch lý mà các trang tuyển dụng như TopCV  thường chỉ ra: doanh nghiệp "khát" nhân lực chất lượng cao, trong khi người lao động trẻ lại khó tìm được việc làm phù hợp. Hệ quả là một sự lãng phí nguồn nhân lực khổng lồ. 3. Rào cản từ định kiến và yếu tố xã hội Chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố vĩ mô đang tác động mạnh mẽ. Tại Việt Nam, dân số đang già hóa, tạo ra áp lực lên lực lượng lao động tương lai. Các doanh nghiệp trẻ - vốn là động lực chính tạo ra việc làm - lại đang có dấu hiệu suy giảm và tăng trưởng chậm lại. Đặc biệt, định kiến giới vẫn là một rào cản lớn. Tỷ lệ nữ thanh niên trong nhóm NEET (không đi làm, không đi học, không tham gia đào tạo) cao hơn đáng kể so với nam giới (13,7% so với 9%), với lý do chính được đưa ra là "làm công việc nội trợ". Điều này cho thấy nhiều phụ nữ trẻ vẫn đang bị giới hạn cơ hội phát triển sự nghiệp bởi những quan niệm cũ. Đừng Gọi Đó Là "Kén Chọn", Hãy Gọi Là "Lựa Chọn " Nhiều người cho rằng giới trẻ "kén cá chọn canh" hay có tâm lý "việc nhẹ lương cao". Nhưng thực tế, thế hệ trẻ ngày nay có những nhận thức khác về giá trị công việc. Họ không chỉ tìm kiếm một nơi để kiếm sống, mà còn mong muốn một môi trường để phát triển bản thân , có sự cân bằng và phù hợp với giá trị cá nhân. Việc họ từ chối một công việc trả lương không tương xứng, một môi trường độc hại hay một định hướng không có tương lai không phải là "lười biếng". Đó là một lựa chọn có ý thức để bảo vệ sức khỏe tinh thần và xây dựng một sự nghiệp bền vững. Thay vì phán xét, hãy cùng tìm giải pháp Thất nghiệp ở người trẻ là một bài toán của cả xã hội. Thay vì chỉ trích, chúng ta cần những hành động thiết thực và đồng bộ: Về phía người trẻ:  Cần chủ động trang bị kỹ năng thực tế thông qua các khóa học, dự án cá nhân, và thực tập. Xây dựng mạng lưới quan hệ và không ngại bắt đầu từ vị trí nhỏ để học hỏi. Về phía doanh nghiệp:  Cần có cái nhìn cởi mở, tạo cơ hội cho sinh viên mới ra trường, đầu tư vào đào tạo và tăng cường kết nối với các cơ sở giáo dục. Đổ lỗi cho một người trẻ thất nghiệp vì "không nỗ lực" cũng giống như chỉ trích một cái cây không ra quả mà không nhìn vào đất đai, thời tiết hay sâu bệnh. Đó là một cách tiếp cận đơn giản hóa vấn đề và bỏ qua trách nhiệm của cả một hệ thống. Lần tới, khi thấy một người trẻ đang loay hoay trên con đường sự nghiệp, thay vì phán xét, chúng ta hãy thử lắng nghe, thấu hiểu và hỗ trợ. Bởi lẽ, tương lai của họ cũng chính là tương lai của cả xã hội này.

bottom of page