top of page

Ô nhiễm theo dòng Mê Kông và hành trình tìm miền đất hứa

Chính quyền địa phương lo ngại về tương lai của đồng bằng sông Cửu Long khi các đập thượng nguồn sông Mê Kông đe dọa sinh kế của người dân.

Sự màu mỡ của đồng bằng bị đe dọa vì ô nhiễm và các nhân tố khác. Liệu nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và kế hoạch phục hồi tổng thể có thể hồi sinh vùng đất này?


Một cánh đồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long sản xuất gần 50% sản lượng gạo, tương đương 43 triệu tấn vào năm 2019. Ảnh: Shutterstock


Ba năm trước, tình trạng thiếu việc làm đã khiến anh Trương Bá Long, 33 tuổi, chuyển đến trung tâm kinh tế của Việt Nam là Thành phố Hồ Chí Minh.


“Sài Gòn là miền đất hứa cho những người từ đồng bằng,” Long cho biết. Anh xuất thân là con nhà buôn bán và thợ làm tóc ở Kiên Giang, đi học bằng kỹ sư điện tại một trường đại học ở Sài Gòn và hiện làm thợ điện cho một chuỗi nhà hàng. Anh cho biết khoảng 80% những người bạn lớn lên cùng anh lớn lên cũng đã di cư vào Sài Gòn.


“Nơi mình ở, người dân làm ruộng quanh năm và không có nhiều việc làm”


Cũng giống như Long, khoảng 1,1 triệu người đã rời bỏ Đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn trong thập kỷ vừa qua để tìm kiếm cơ hội khắp Việt Nam hoặc ở nước ngoài; do hậu quả của ô nhiễm môi trường, quy hoạch kém, các đập thượng nguồn đe dọa sinh kế của người dân và sức sống của vùng Đồng bằng.


Một báo cáo được công bố gần đây của các chuyên gia kinh tế và chính sách hàng đầu tại Việt Nam được tài trợ bởi Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy rằng vùng đồng bằng có tỷ lệ di cư cao nhất và nhập cư thấp nhất ở cả nước. Đóng góp của vùng cho GDP của Việt Nam cũng đã giảm mạnh trong ba thập kỷ qua - từ khoảng 27% vào năm 1990 xuống 17,7% vào năm 2019. Dân số của vùng đồng bằng, bao gồm 13 trong số 63 tỉnh và thành phố của Việt Nam, hiện là 17,1 triệu.


“Hệ quả tất yếu của tình trạng này là thiếu hụt lao động (ở đồng bằng) ngày càng phổ biến, đồng thời dân số già đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng”, báo cáo cho biết. Các tác giả bao gồm các giáo sư từ Đại học Fulbright Việt Nam và Đại học Cần Thơ, các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp.


Báo cáo cho biết, việc thiếu lao động có kỹ năng cộng với việc chuyển đổi chậm qua các ngành có tính năng suất cao hơn khiến nền kinh tế của vùng đồng bằng bị bỏ lại phía sau.


Bài toán lương thực


Cuối thế kỷ 20, Việt Nam muốn cạnh tranh với Thái Lan về xuất khẩu gạo, vì vậy chính phủ và nông dân xây dựng hệ thống đê kín xung quanh đất nông nghiệp, ngăn chặn mùa nước nổi vào ruộng lúa và trồng thêm vụ thứ ba mỗi năm thay vì chỉ hai vụ như trước. Thu hoạch lúa gạo tăng từ 4 triệu tấn năm 1975 lên hơn 20,7 triệu vào năm 2010. Việt Nam trở thành nước sản xuất gạo lớn thứ ba trên thế giới, sau Ấn Độ và Thái Lan.


Đến năm 2019, sản lượng gạo của Việt Nam đã tăng lên hơn 43 triệu tấn, trong đó sản lượng của đồng bằng chiếm 50%. Khu vực này cũng là vựa trái cây của cả nước khi đóng góp tới 60% sản lượng, và 70% sản phẩm nuôi trồng thủy sản.


Nhưng cái giá phải trả cho những thành tựu này là sự phì nhiêu của vùng đồng bằng. Trong các khu vực đê bao khép kín, mùa nước nổi - cần thiết để bồi đắp phù sa cho ruộng lúa và rửa trôi các sunphat có tính axit và các chất độc hại khác đi - không còn diễn ra. Và, với ba vụ lúa được trồng mỗi năm, đất không có đủ thời gian để phục hồi độ phì nhiêu tự nhiên.


Ngoài ra, tình trạng lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan ở Đồng bằng sông Cửu Long, theo báo cáo năm 2017 của Ngân hàng Thế giới về ô nhiễm nông nghiệp ở vùng này. Các công trình đập được xây để ngăn mặn và trữ nước ngọt ở sông Mê Kông cũng đã dẫn đến ô nhiễm nước gia tăng do chất thải tích tụ, theo một nghiên cứu năm 2018 của Đại học Cần Thơ.



V